vietnam website directory
  [Đăng nhập bài viết] | [Đăng nhập Website] | [Liên Hệ]
Home: doanh nghiệp và kinh doanh: Danh bạ ngân hàng Việt Nam
   
    Ngân hàng Á Châu- ACB - (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Asia Comercial Bank) được thành lập vào ngày 24 tháng 4 năm 1993, và chính thức đi vào họat động kinh doanh sau ngày 4 tháng 6 năm 1993.

    Ngân hàng Bắc Á - (tên giao dịch bằng tiếng Anh: North Asia Commercial Joint - Stock Bank) được thành lập năm 1994. Trụ sở chính được đặt ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

    Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank) - (Incombank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là một trong bốn Ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất tại Việt Nam.

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - (tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of Vietnam; tên gọi tắt: BIDV) là ngân hàng thương mại lớn thứ nhì Việt Nam (sau Agribank) tính theo tổng khối lượng tài sản và là doanh nghiệp lớn thứ tư Việt Nam theo báo cáo của UNDP năm 2007.

    Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu - (hay còn được gọi là GP.Bank) tiền thân là ngân hàng thương mại nông thôn Ninh Bình, đã chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động từ nông thôn sang ngân hàng đô thị từ 07/11/2005.

    Ngân hàng Đại Dương - (hay còn được gọi là OceanBank) tiền thân là Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Hải Hưng, đã được Nhà nước Việt Nam cho phép chuyển đổi thành Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị.

    Ngân hàng Kiên Long - (hay còn được gọi là Techcombank) tiền thân là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn Kiên Long, chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 25/10/1995.

    Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam - (hay còn được gọi là Techcombank) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn ở Việt Nam, được thành lập năm 1993.

    Ngân hàng Hàng hải - (hay còn được gọi là Maritime Bank) thành lập ngày 12/07/1991 tại TP Cảng Hải Phòng, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở nước ta.

    Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - (tên tiếng Anh là Bank for Foreign Trade of Vietnam), còn được gọi là Vietcombank hay VCB là ngân hàng thương mại lớn thứ ba Việt Nam (sau Agribank và BIDV) tính theo tổng khối lượng tài sản.

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Việt Nam.

    Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản.

    Ngân hàng Phương Đông - (hay còn được gọi là Orient Bank) Cung cấp dịch vụ tài chính, tín dụng, kinh doanh tiền tệ.

    Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín - (hay còn được gọi là Sacombank) Trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch tại 44 tỉnh thành trong cả nước. Được đánh giá và xếp loại A (loại cao nhất) trong bảng xếp loại của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2006 và xếp thứ 4 trong ngành tài chính tại Việt Nam do chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP đánh giá cho năm 2007.

    Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á - Với phương châm “Bình dân hoá dịch vụ ngân hàng - Đại chúng hóa công nghệ ngân hàng”, Đông Á đặt mục tiêu trở thành một ngân hàng đa năng – một tập đoàn dịch vụ tài chính vững mạnh.

    Ngân Hàng TMCP Miền Tây - Tiền thân là Ngân hàng Cờ Đỏ, được thành lập từ cuối năm 1988 tại Thành phố Cần Thơ.

    Ngân Hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) - tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông thôn Nhơn Ái được thành lập từ cuối năm 1993.

    Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín - tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông thôn Nhơn Ái được thành lập từ cuối năm 1993.

    Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex Tiền thân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xăng dầu Petrolimex (gọi tắt là PG Bank) là Ngân hàng TMCP Nông thôn Đồng Tháp với số vốn điều lệ ban đầu là 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng). Tháng 5 năm 2007, Đại hội cổ đông thường niên của Ngân hàng đã họp và quyết định tăng vốn của Ngân hàng lên 500 tỷ đồng trong năm 2007 và có kế hoạch tăng vốn lên ít nhất 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và ít nhất là 3.000 tỷ đồng trong giai đoạn từ 2008 đến 2010.Tính đến 31/05/2007, tổng tài sản của Ngân hàng đạt 1.632 tỷ đồng, dư nợ đạt 900 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 5 tháng đầu năm 2007 đạt 17 tỷ đồng.
   Xem thêm :
  • Thị trường chứng khoán
  • Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà TP. HCM (HDBank)
  • Danh bạ ngành Ngân hàng Tài chính Việt Nam 2009 Danh bạ tập hợp hơn 600 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính tại thị trường Việt Nam
  • Ngân hàng hay nhà băng là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động tín dụng như nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư tài chính, các hoạt động thanh toán, phát hành các loại kỳ phiếu, hối phiếu, v.v... và một số hoạt động khác.
  • Máy rút tiền tự động (còn được gọi là ATM, viết tắt của Automated Teller Machine hoặc Automatic Teller Machine trong tiếng Anh) là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng.
  • Ai là cha đẻ của ATM ?
  • Séc là một lệnh vô điều kiện thể hiện dưới dạng chứng từ của người chủ tài khoản, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
  • Cao Sĩ Kiêm (sinh ngày 26 tháng 8 năm 1941 tại Thái Bình) là Tiến sĩ kinh tế, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1989 đến năm 1997.
  • Lê Đức Thúy (sinh ngày 30 tháng 6, 1948) tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, là phó chủ tịch chuyên trách của Hội đồng Tư vấn Kinh tế - Tài chính của Chính phủ. Trước đó, từ tháng 12 năm 1999 đến tháng 7 năm 2007 ông là thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam .
  • Lữ Minh Châu (tên thật là Lữ Triều Phú, tên khác là Ba Châu) nguyên là tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tương đương với chức vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay) từ năm 1986 đến năm 1989.Ông đã từng được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cử đi học tài chính tại Liên Xô cũ.
  • Nguyễn Tấn Dũng (còn gọi là Ba Dũng theo cách gọi của người miền Nam Việt Nam dựa trên thứ bậc trong gia đình) sinh tại Thành phố Cà Mau.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nhiệm kỳ 1998 – 1999

Sự ra đời của ngân hàng

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn.
 

Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.

Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và cho các công ty và cá nhân vay lại. Tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản nợ. Tiền cho công ty và cá nhân vay lại cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản có. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có. Phần tài sản có tính thanh khoản được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là tỷ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

  • Vốn cấp 1, còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ cộng với lợi nhuận không chia cộng với các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển.
  • Vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp nhất định) và dự phòng chung cho rủi ro tín dụng.